CHUYẾN HẢI HÀNH CUỐI CÙNG !

Hải quân Việt Nam Cộng hòa (Tiếng AnhRepublic of Vietnam NavyRVN) là lực lượng Hải quân trực thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hoạt động trên cả vùng sông nước và lãnh hải Việt Nam Cộng hòa. Tiền thân của lực lượng này là Hải quân Quân đội Quốc gia Việt Nam, gồm những tàu chiến nhỏ do quân đội Liên hiệp Pháp trang bị trước khi rút lui khỏi Việt Nam.

Trong khoảng thời gian tồn tại, Hải quân Việt Nam Cộng hòa là lực lượng có trang bị mạnh nhất Đông Nam Á. Khác với Hải quân Hoa Kỳ được trang bị tàu sân bay để có thể yểm trợ các lực lượng tác chiến trên vùng biển xa cũng như các lực lượng tác chiến ven biển, hải quân VNCH chỉ được Hoa Kỳ cung cấp cho những tuần duyên hạm, tàu khu trục và các chiến hạm chiến đấu loại nhỏ và vừa để có thể tuần tiễu và tác chiến tại lãnh hải gần bờ. Hải quân VNCH là lực lượng chủ chốt tham gia Hải chiến Hoàng Sa 1974 tranh chấp các đảo Hoàng Sa với Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Năm 1972 Hải quân Việt Nam Cộng hòa trở thành lực lượng hải quân lớn nhất Đông Nam Á và lớn thứ 4 thế giới theo số lượng tàu chiến và binh sĩ, chỉ sau Liên XôHoa Kỳ và Trung Quốc [1]. Một số nguồn thì cho rằng HQVNCH lớn thứ 9 trên thế giới [2].

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cùng với sự sụp đổ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, lực lượng hải quân cũng chính thức giải thể.

English follows

The Republic of Vietnam Navy (English: Republic of Vietnam Navy, RVN) is a naval force under the Army of the Republic of Vietnam, operating in both the water and territorial waters of the Republic of Vietnam. The predecessor of this force was the Vietnam National Army Navy, consisting of small warships equipped by the French Union army before withdrawing from Vietnam.

During its existence, the Republic of Vietnam Navy was the strongest armed force in Southeast Asia. Unlike the US Navy, which is equipped with aircraft carriers to support combat forces in the far seas as well as coastal combat forces, the Republic of Vietnam Navy is only provided by the United States for its coast guard ships. , destroyers and small and medium-sized battleships to be able to patrol and engage in near-shore territorial waters. The Republic of Vietnam Navy was the key force that participated in the 1974 Paracel Sea War in the dispute over the Paracel Islands with the People’s Liberation Army Navy of China.

In 1972, the Republic of Vietnam Navy became the largest naval force in Southeast Asia and the fourth largest in the world by the number of warships and soldiers, after the Soviet Union, the United States and China. Some sources claim that the ARVN is the 9th largest in the world .

On April 30, 1975, along with the collapse of the Army of the Republic of Vietnam, the navy was also officially dissolved.

http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Garrett_County_(LST-786)
Trần Chi Trung Navy Captain Can Tho HQ-801.
The Navy of the Republic of Vietnam’s rank of Officer Cadet, 1967-1975

trại giam Bù Gia Mập: Hành trình vượt ngục

Chính phủ Mỹ cũng bỏ vnch lâu rồi , nhưng nhờ ông thượng nghị sĩ MC Cain tranh đấu ra quốc hội Mỹ để có diện HO , vì ông này hồi chiến tranh vn ông MC CAIN mang quân hàm cấp tá lái B52 bỏ bom ra bắc bị bắn rớt và ông bung dù ra bị bắt cũng cải tạo trên 10 năm tại Hỏa lò , sau đó ông đc chính phủ vn trả tự do nên đấu tranh cho những tù nhân vnch cải tạo trên 3 năm đc qua Mỹ nhưng những tù nhân cải tạo không đủ 3 năm sẽ k hội đủ điều kiên định cư tại Mỹ , dù tù nhân của quân nhân vnch trong thời gian cải tạo chết trong trường .mà vợ của tù nhân cũng chết thì con của quân nhân vnch cải tạo chết trong trại cải tạo cũng bị phía Mỹ từ chối

Bản đồ Bình Phước

Tại Bù Gia Mập có một khu trại cải tạo rất lớn, thành phần cải tạo là sĩ quan cấp tá không bị đưa ra miền Bắc.
[Theo lời kể của một số người, ở Bù Gia Mập còn có cả sĩ quan cấp úy. Về sau, Bù Gia Mập trở thành trại giam tù hình sự, thuộc Bộ Công An]
Sau này chúng tôi được nghe kể Bù Gia Mập là trại cải tạo hắc ám nhất ở Phước Long, so với Bù Gia Phúc cũng giống như Cà Tum với Đồng Ban ở Tây Ninh trước kia.

Nhất Nhật Tại Tù Thiên Thu Tại Ngoại là một thi phẩm đặc sắc của nhà thơ Phan Chu Trinh. Ông là một nhà nho yêu nước chân chính, có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể khẳng định rằng ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ. Nổi bật nhất chính là bài thơ Nhất Nhật Tại Tù Thiên Thu Tại Ngoại 

Với tinh thần yêu nước nồng nhiệt, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, sóng gió, gian khổ và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ.

Dầu ai tại ngoại đù thiên thu
So lại không qua nhất nhật tù
Một bữa Văn Công xoang vận Tống
Hai lần Bành Tổ trải đời Chu
Cửa nhà mấy thước vùng trời đất
Tối sớm trăm vòng cuộc bể dâu
Thong thả co tay ngồi tính thử
Thần tiên chưa dễ sánh ta đâu

Hải quân đại úy Trần Chí Trung cùng 6 bạn tù vượt trại cải tạo Bù Gia Mập và bị dân làng bắt lại giao cho cai tù.

Tất cả đều bị xử bắn tại trại cải tạo Bù Gia Mập Phước Long năm 1978 -1979.

“美人自古如名将,世间不许见白头。”

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

Tài hoa bạc mệnh

“古今佳人如名将,人不能白头.”

Huyện Bù Gia Mập nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa với 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và ổn định từ 25,8 – 26,2 °C.

Flag of the Republic of Vietnam Navy
The naval ensign of South Vietnam, used since 1949 to 1975.
Flag of Saint Tran (Hiệu kỳ Đức Thánh Trần / Thánh kỳ Hải quân Việt Nam Cộng hòa), used since 1956 to 1975.

13- Trung Tá Vũ Đình Duy, trưởng Đoàn 66 Đà Lạt.  Tự sát ngày 30/4/1975

14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn, trưởng Đoàn 67 Phòng 2 Bộ Tổng Tham mưu. Tự sát ngày 30/4/1975

ANH HÙNG TỬ, KHÍ HÙNG BẤT TỬ

Vinh Danh Những Chiến Sĩ Anh Hùng Đã Tuẫn Tiết Trong Ngày 30 Tháng 4 năm 1975.

Tháng 4 đen ngày quốc hận 30 tháng 4 năm 1975. Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử trong bàn cờ quốc tế. Đã để lại nhiều hệ luỵ rất đau buồn, khiến cho gia đình ly tán. Chúng ta nên tự hỏi đã có bao nhiêu chiến sĩ anh hùng đã tự sát, không chịu đầu hàng trong ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975. Những vị Anh Hùng những chiến sĩ QLVNCH đã tự sát trong ngày cuối cùng của Quân Lực VNCH.

Tôi thử đi tìm và nhận ra một danh sách khá dài, những vị anh hùng đã tuẫn tiết không chịu đầu hàng cộng sản. Tôi nghĩ danh sách này cũng chưa đủ, có thể sẽ còn nhiều hơn nữa, những vị anh hùng đã tuẫn tiết hy sinh trong ngày mất nước mà chúng ta chưa biết đến, không phải chỉ có những cấp Tướng, cấp Tá, hay Sĩ quan trong quân đội, mà ngay cả những chiến sĩ không cấp bậc, những người lính rất bình thường như Địa Phương Quân, Nghĩa Quân cũng đã tuẫn tiết hy sinh, không để bị rơi vào tay cộng quân.

Chính những người chiến sĩ can trường này, đã trở thành những vị anh hùng thắp sáng ngọn lửa oai hùng cho QLVNCH.

Sau đây là danh sách các vị Anh Hùng đã tự sát trong ngày cuối cùng của miền nam Việt Nam.

Hãy vinh danh các vị Anh Hùng của QLVNCH.

Anh Hùng Tử – Khí Hùng Bất Tử

Danh sách các quân nhân Quân Lực VNCH đã tự sát trong những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa.


Cấp bậc    –     Họ tên    –    Chức vụ   –    Đơn vị    –    Ngày tự sát.

1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn II 30/4/1975
2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn IV 30/4/1975
3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn IV 30/4/1975
4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh 30/4/1975
5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh 30/4/1975
6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Khóa 16 Đà Lạt. 31/31975 tự sát tại Quy Nhơn
7- Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ông đã bị Việt Cộng xử bắn ngày 14 tháng 8 năm 1975 mặc dù ông không tự sát, như những vị anh hùng khác nhưng khí tiết anh hùng hiên ngang gục chết trước pháp trường đã làm cho cộng quân phải khiếp sợ, cái chết của ông là bản anh hùng ca còn lưu giữ mãi trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
8- Thiếu Tá Hải Quân Lê Anh Tuấn (bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang). 30/4/1975
9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập, đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ.
    Tự sát30/4/75 tại BTLKQ
10- Trung Tá Nguyễn Văn Long CSQG 30/4/1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Sài Gòn
11- Trung Tá Nguyễn Đình Chi Phụ Tá Chánh sở 3 An Ninh Quân Đội. Tự sát 30/4/1975 tại Cục An Ninh Quân Đội
12- Trung Tá Phạm Đức Lợi, phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM 30/4/1975
13- Trung Tá Vũ Đình Duy, Trưởng Đoàn 66 Đơn Vị 101 Bộ TTM. Tự sát ngày 30/4/1975
14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn, Trưởng Đoàn 67 Đơn Vị 101 Bộ Tổng Tham Mưu. Tự sát ngày 30/4/1975
15- Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Tự sát ngày 28/4/1975 cùng vợ, 2 con và cháu (bằng súng)
16- Thiếu Tá Đặng Sỹ Vĩnh, trưởng Ban Binh Địa P2 Bộ TTM, sau biệt phái qua Cảnh Sát. Ngày 30/4/1975 tự sát cùng vợ và 7 con
17- Thiếu Tá Mã Thành Liên (Nghĩa), tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu- khoá 10 Đà Lạt. Ngày 30/4/1975 tự sát cùng vợ.
18- Thiếu Tá Lương Bông, phó ty An Ninh Quân Đội Phong Dinh. Tự sát ngày 30/4/1975
19- Thiếu Tá Trần Thế Anh, Đơn vị 101 Bộ Tổng Tham Mưu. Tự sát ngày 30/4/75
20- Đại Úy Vũ Khắc Cẩn, Ban 3, Tiểu Khu Quảng Ngãi. Tự sát 30/4/1975
21- Đại Úy Tạ Hữu Di, Tiểu đoàn phó 211 Pháo Binh Chương Thiện. Tự sát 30/4/1975
22- Trung Úy CSQG Nguyễn Văn Cảnh, trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8. Tự sát ngày 30/4/1975
23- Chuẩn Úy Đỗ Công Chính, TĐ 12 Nhảy Dù. Tự sát ngày 30/4/1975
      tại cầu Phan Thanh Giản
24- Trung Sĩ Trần Minh, gác Bộ Tổng Tham Mưu. Tự Sát 30/4/1975
25- Thiếu Tá Đỗ Văn Phát, Quận Trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên 1/5/1975
26- Thiếu Tá Nguyễn Văn Phúc, Tiểu đoàn trưởng ĐPQ, Tiểu Khu Hậu Nghĩa.

       Tự sát ngày 29/4/1975
27- Trung Tá Phạm Thế Phiệt tự sát ngày 30/4/1975
28- Trung Tá Nguyễn Xuân Trân, Khoá 5 Thủ Đức, Ban Ước Tình Tình Báo P2     

       Bộ TTM.Tự sát ngày 1/5/75
29- Trung Tá Phạm Đức Lợi, Phòng 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả, nhà văn,

      thơ, soạn kịch, bút danh: Phạm Việt Châu, cựu giảng viên SNQĐ, Trưởng phái  

      đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội. Tự sát tại nhà riêng ngày 5/5/1975

30- Đại Úy Nguyễn Văn Hựu, trưởng Ban Văn Khố P2/Bộ TTM. Tự sát sáng         

      30/4/75 tại P2/Bộ TTM
31- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, Cảnh sát đặc biệt, tự sát ngày 30/4/1975
      tại Thanh Đa, Sài Gòn
32- Thiếu Úy Nhảy Dù Huỳnh Văn Thái, khoá 5/69 Thủ Đức. 30/4/1975 tự sát tập

      thể cùng 7 chiến sĩ Nhảy Dù tại Ngã 6 Chợ Lớn.
33- Trung Úy Đặng Trần Vinh (con của Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh), P2 BTTM. Tự  

       sát cùng vợ con 30/4/1975
34- Trung Úy Nghiêm Viết Thảo, An Ninh Quân Đội, khóa 1/70 Thủ Đức. Tự sát

       30/4/1975 tại Kiến Hòa
35- Thiếu Úy Nguyễn Thanh Quan (Quan Đen), phi công PĐ 110 Quan Sát (khóa

       72). Tự sát chiều 30/4/1975
36- Hồ Chí Tâm B2, TĐ 490 ĐP ( Mãnh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau). Tự sát bằng

      súng M16 trưa 30/4/1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau
37- Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày

       30/4/1975 tại Vũng Tàu
38- Thượng Sĩ Bùi Quang Bộ, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày

      30/4/1975. Cùng gia đình 9 người tại Vũng Tàu.

Danh Sách Những Anh Hùng Cảnh Sát Quốc Gia Đã Tuẫn Tiết

1- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, cựu Tổng Giám Đốc CSQG, tuẫn tiết tại Bản

     doanh Sư Đoàn 7 Bộ Binh lúc 6 giờ chiều ngày 30/4/1975.

2- Trung Tá Nguyễn Văn Long, Chánh Sở Tư Pháp BCH/CSQG Khu 1, tuẫn tiết   

     duới chân tượng đài TQLC trước trụ sở Hạ Viện Sài Gòn sau khi Ông Dương  

     Văn Minh tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt sáng 30/04/1975.

3- Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh, Quân Nhân Biệt Phái, Trưởng Phòng Trung Ương Kỹ

     Thuật trực thuộc Văn Phòng Tư Lệnh CSQG, cùng vợ và 7 con uống thuốc độc   

     tự vẫn tại nhà riêng ở Ngã Ba Ông Tạ Sài Gòn sáng 30/4/1975, trong đó có con  

     trai trưởng là Trung Uý Đặng Trần Vinh, Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu.

4- Trung Tá Nguyễn Văn Đức, nguyên CHT Biệt Đoàn Cảnh Sát Lưu Thông

     BCH/CSQG Thủ Đô, tuẫn tiết bằng súng lục tại VP của Thiếu Tướng Đỗ Kế  

     Giai, CHT Biệt Động Quân, khi Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng CS.

5- Trung Tá Đỗ Thanh Liêm, BTL/CSQG, tự sát tại trại giam ở biên giới Việt

     Miên.

6- Trung Tá Võ Tuyết Hồ, Khối ĐB, BTL/CSQG tự sát trong lúc di tản qua khu

     rừng Sát khi nghe tin Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

7- Thiếu Tá Đỗ Minh Hoàng, Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Quận Bình Phước,

     Tỉnh Long An, tự sát tại Cầu Quay Mỹ Tho ngày 30/4/75.

8- Trung Uý Ngô Văn Cho, Phó Trưởng Cuộc Võ Tánh, BCH/CSQG Quận Nhì

     Sài Gòn và 6 người trong gia đình đã tự sát bằng súng lục đêm 2/5/1975 tại Cư

     Xá Quận Nhì, Sài Gòn.

9- Trung Uý Nguyễn Văn Cảnh, Phó Trưởng Cuộc CSQG Phường Xóm Chiếu,

     BCH/CSQG Quận 4 Sài Gòn, tự sát trong ngày 30/4/1975 tại Văn Phòng Cuộc.

10- Trung Uý Du, không rõ họ, Trưởng Cuộc CSQG, tự sát cùng gia đình ngày

      30/4/1975 tại Sài Gòn.

11- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, Khóa 6 Học Viện CSQG, Cơ Quan D6 (Trung Tâm

      Thẩm Vấn) Khối Đặc Biệt BTL/CSQG uống thuốc độc tự tử tại nhà riêng ở Cư

      Xá Thanh Đa Sài Gòn, được gia đình phát giác đưa đi bệnh viện cứu sống,

      nhưng sau đó Thiêu Uý Nguyễn Phụng đã quyết tâm tự sát lần nữa bằng cách

      cắt đứt gân máu tay của mình.

12- Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Liêm, không rõ nhiệm sở, tự sát ngày 30/4/75.

13- Thiếu Uý Nguyễn Văn Lung, BTL/CSQG, kê súng bắn vào đầu tự sát ngày

      30/4/75 nhưng được cứu sống.

14- Thượng Sĩ Võ Văn Cẩm, BCH/CSQG Biên Hòa, tự sát tại Nhơn Trạch, Biên

      Hòa ngày 30/4/75.

15- Thượng Sĩ Bùi Văn Mương, G.ĐB Quận Củ Chi, tự sát 30/4/75.

16- Thượng Sĩ Trần Văn Phát, Sĩ Quan Phụ Tá G.ĐB Quận Củ Chi, tự sát

      30/4/75.

17- CH Dung, không rõ họ, cấp bậc, nhân viên CSĐB Tân Thông, tự sát 30/4/75.

18- CH Trần Khả, không rõ cấp bậc, Trưởng Cuộc Hoà Thắng, Phú Yên tự sát tại

      nhà ngày 31/3/75.

19- Trung Sĩ 1 Nguyễn Xuân Ba, BCH/CSQG Tỉnh Bình Định, tự sát ngày 2/4/75

      tại Bình Định.

20- Trung Sĩ 1 Lê Thành Chương, BCh/CSQG Tỉnh Bình Định, tự sát ngày

      2/4/75 tại Bình Định.

21- Trung Sĩ 1 Ngô Xuân Lạc, không rõ nhiệm sở, tự sát ngày 2/4/75 tại Bình

       Định.

22- Trung Sĩ Nguyễn Du, không rõ nhiệm sở, tự sát ngày 2/4/75 tại Bình Định.

23- Thượng Sĩ Trần Thi, G.ĐB Quận Tư Nghĩa Quảng Ngãi, tự sát trong đêm

      Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

24- Thượng Sĩ Nguyễn Hồng Lạc, Cựu Trưởng Cuộc Tư Quang, Quận Tư Nghĩa,

       tự sát trong đêm Quảng Ngãi di tản 24/3/1975.

25- Trung Sĩ 1 Huỳnh Vĩnh Bá, G.ĐB Quận Sơn Tịnh, tự sát bằng súng cùng với

       gia đình trong đêm Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

26- Trung Sĩ 1 Nguyễn Văn Quế, G.ĐB Quận Sơn Tịnh Quảng Ngãi, bị Cộng Sản

       bắt và dẫn về nhà để lấy tài liệu mật báo viên. Tại tư gia, trong lúc giả vờ đi

       đem hồ sơ MBV, TS Quế lấy lựu đạn đã được cất dấu tại nhà, mở chốt tự sát

       và gây thương tích cho hai tên VC áp giải và vợ con.

27- Trung Sĩ 1 Lâm Tài, F. ĐB Quảng Ngãi, chiến đấu và tự sát trong một cái

       chòi ở Xã Sơn Long, Quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi khi bị VC phát hiện tấn

       công, trong đêm Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

28- Trung Sĩ 1 Lê Minh Xuân, nhân viên G Nghiên Cứu F Đặc Biệt Quảng Ngãi,

       tự sát tại nhà.

29- Trung Sĩ 1 Huỳnh Trần Bá, G.ĐB Quận Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi, ném lựu

       đạn gây cộng quân tử thương tại Bình Liên, quận Bình Sơn sáng ngày 25/3/75

       và đã tự sát sau đó.

30- Trung Sĩ 1 Nguyễn Tiền, Cuộc Bình Hoàng, Quận Bình Sơn, tự sát trong đêm

      Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

31- Thiếu Uý Đinh Văn Hường, Trưởng Cuộc Ba Xuyên, Quận Ba Tơ, tự sát tại

      Trại Gia Binh Thiết Giáp Xã Tư Chánh, Quận Tư Nghĩa trong đêm Quảng

      Ngãi di tản 24/3/75.

32- Thượng Sĩ Đoàn Văn Nhược, Phó Trưởng Cuộc Nghĩa Hưng, Quận Nghĩa

      Hành tự sát trong đêm Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

33- Trung Sĩ 1 Trần Đức Một, Biệt Phái Toà HC Tỉnh Quảng Ngãi, tự sát trong

      đêm Quảng Ngãi di

34- Thượng Sĩ Bùi Đức Tôn, F.ĐB Quảng Ngãi, tự sát trong đêm Quảng Ngãi di

       tản 24/3/75.

35- Trung Sĩ 1 Huỳnh Quang Thông, Thẩm vấn viên F. ĐB Qủang Ngãi, tự sát

       trong đêm Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

36- Thượng Sĩ Vũ Phúc Loan, Trại Tạm Giam BCH/CSQG Tỉnh, tự sát trong

      đêm Quảng Ngãi di tản 24/3/75.

37- Nguyễn Văn Tiểng, Đại Đội 106 CSDC, tự sát trong đêm Quảng Ngãi di tản

      24/3/75.

38- Trung Sĩ 1 Trương Vận, G.ĐB Quận Bình Sơn, tự sát trong đêm Quảng Ngãi

      di tản 24/3/75.

39- Trung Sĩ 1 Phạm Văn Tuyển, Trung Đội Phó, Đại Đội 106 CSDC Quảng

       Ngãi, tự sát tại Bình Liên, Quận Bình Sơn trong đêm Quảng Ngãi di tản

       24/3/1975.

40- Trung Sĩ 1 Nguyễn Phú, G.ĐB Quận Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam, tự sát cuối

       tháng 3/75.

41- Trung Sĩ 1 Nguyẽn Văn Tố, G.ĐB Quận Cai Lậy, Tỉnh Định Tường, tự sát tại

      Trại Mỹ Phước Tây, Cai Lậy.

42- Thiếu Úy Võ Công Hạnh, BCH/CSQG Quảng Nam, tự sát tại Trại Phú Túc,

      Quảng Nam.

43- Trung Uý Mã Phúc Hiệp,Trưởng Cuộc CSQG, trốn trại và tự sát tại nhà trong

       khi bị VC truy bắt.

44- Thiếu Uý Nguyễn Văn Lắm, Khóa 4, Trưởng G ĐB Quận Đức Thịnh, Tỉnh Sa

       Đéc, tự sát 30/4/1975.

45- Trung Úy Trần Văn Kha, K2 HVCSQG, tự sát trên đường số 7 Tuy Hòa trong

      di tản.

46- CSV Trần Hữu Viên, G. Đặc Biệt Quận Phước Ninh, BCH/CSQG Tỉnh Tây

       Ninh, tự sát tại Khách Đình, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh tối 30/4/1975.

47- Thiếu Úy Hoàng Xuân Lân, Trưởng Cuộc Bình Tân, BCH/CSQG Quận Hòa  

       Lạc, Tỉnh Gò Công, tự sát lúc 11 giờ sáng 30/4/1975.

Danh sách bao gồm 47 chiến sĩ trong lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia thiết lập. Tôi đã sưu tầm trên trang Website Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.

Tôi nghĩ danh sách này có thể còn dài hơn, vì chúng ta không có đủ dữ liệu để cập nhật theo danh sách “Anh Hùng Tử – Khí  Hùng Bất Tử“

Những anh hùng vô danh của Quân Lực VNCH được nhắc nhở đến với tinh thần “anh hùng tử, khí hùng nào tử”. Người anh hùng chết nhưng chí khí anh hùng không chết. Các vị tướng lãnh đã tuẫn tiết được nhớ đến như “sinh vi tướng, tử vi thần” Sống làm tướng, chết thành thần.

Tưởng niệm, vinh danh những anh hùng đã vị quốc vong thân không gì bằng chúng ta hãy tiếp bước theo ý chí của những vị anh hùng, để nêu cao ý chí bất khuất trong cuộc chiến mới. Đó là đấu tranh trên mọi bình diện “Văn Hoá” để đem đến nền dân chủ, tự do cho đồng bào Việt Nam trong cả nước. Mang lại những quyền tự do căn bản được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) được Đại Hội Đồng LHQ thông qua ngày 10 tháng 12, 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp.

Đảng Cộng Sản Việt Nam không xứng đáng lãnh đạo đất nước vì đảng, độc tài đảng trị, tham nhũng, nhất là thái độ hèn với giặc, ác với dân, nhưng tội nặng nhất là truyền thống bán nước của đảng, từ Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh, đến Đỗ Mười, đến Lê Khả Phiêu và sau đó là Lê Đức Anh, đã dâng hiến các đảo ở Trường Sa cho Trung Cộng.

Tội lớn nhất của cộng sản là đưa cả dân tộc Việt Nam vào chế độ độc tài, tàn bạo, vô nhân bất nghĩa, đã bị kết án về tội diệt chủng và tội chống loài người, một chủ thuyết đã bị lịch sử ném vào sọt rác của nhân loại.

Cuộc chiến tranh Việt Nam, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có một câu hỏi được đặt ra. Cuộc Chiến này ai thắng ai thua?. Nếu chúng ta nhận xét yếu tố thắng thua theo (Binh Pháp Tôn Tử). “Chiếm được thành quách chưa phải là người chiến thắng. Mả chiếm đượ lòng dân mới là người thật sự chiến thắng”.

Trên thực tế mọi người Việt Nam đều nhận ra. Cộng Sản Việt Nam đã xâm chiếm, giải phóng Miền Nam. Nhưng ngược lại, chính tinh thần của người miền Nam đã giải phòng tình thần và nền văn hoá (gông cùm) của miền Bắc.

 Cuộc chiến tranh Việt nam tuy kết thúc những đã để lại nhiều hệ luỵ về đời sống và ngay cả trong suy nghĩ của cả hai bên. Đối với những con người chân chính, những người bên thắng cuộc, không phải họ không biết gì, họ vẫn nhận ra sự sai lầm, khi chính họ đã bị lừa, bị đảng bịt mắt dẫn đưa vào một cuộc chiến tương tàn của dân tộc Việt Nam.

Hay đọc câu nói này từ (bên thắng cuộc)

Nếu ai đó hỏi cha tôi 30/04 là ngày gì? Cha tôi sẽ trả lời, đó là ngày mà ông nhận ra mình đã bị lừa dối. Ông và các đồng đội của ông là “Thế hệ bị lừa dối”.”

“Còn nếu ai đó hỏi ông muốn gọi 30/04 là ngày gì? Thì tôi xin phép được trả lời thay cho cha tôi, hãy gọi 30/04 là ngày phán xét.

Cuối cùng, tôi muốn thay mặt cha tôi gửi lời xin lỗi chân thành đến những người lính ở phía bên kia.

30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam

Chúng ta hãy thắp lên nén nhang buồn, hãy thắp sáng nén nhang lòng, để gửi đến Những Anh Hùng bất Khuất, những lời cầu nguyện, cho Hương Linh của các vị sớm siêu thoát, yên nghỉ trên cõi Niết Bàn hay Thiên Đàng

Nỗi đau lòng không của riêng ai, nỗi đau lòng là của chung mọi người, những con người chân chính, với tấm lòng trắc ẩn về một quá khứ đau thương, mà mỗi năm người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại luôn luôn tưởng niệm.

Ngày phán xét 30 tháng Tư Đen.

Viết và sưu tầm, để tưởng niệm ngày 30 tháng Tư Đen.

AET Tê Luấn

COPYRIGHTS 2022@THAI PHAM

Subic Bay

Cơ xưởng hạm AGP

SttDanh sốDanh hiệuChính danh
(Ký hiệu)
SttDanh sốDanh hiệuChính danh
(Ký hiệu)
1HQ-800Mỹ ThoUSS Harnett County, AGP-8213HQ-802Vĩnh LongUSS Satyr, ARL-23
2HQ-801Cần ThơUSS Garrett County, AGP-786

RVNS My Tho (HQ-800) Số phận một con tàu. – FunLand

Con BRP Kalinga Apayao (LT-516) của Phi tiền thân là con RVNS Can Tho (HQ-801) của VNCH và trước nữa nó là con USS Garrett County (LST-786) của Mỹ

USS Garrett County (LST-786)
Hình ảnh HQ801 My Tho

Tiền thân của RVNS Mỹ Tho là USS LST-821/Tank Landing Ship LST-821
Sau lần lượt được đổi tên thành USS Harnett County (LST-821) rồi USS Harnett County (AGP-821)

 – Phạm phú Nam-

(Bài do Nại Trần sưu tầm và gởi đến Căn Nhà Nhỏ)
Năm nay 2021, người Việt định cư tại Hoa Kỳ đã lên đến con số 2 triệu người. Nhiều em trẻ sẽ hỏi, tại sao người Việt mình đến Mỹ ? Đến từ lúc nào ? Bằng cách nào ? Tháng 4 năm nay là năm tưởng niệm thứ 46 biến cố Tháng Tư Đen, một biến cố mất nước khiến cho hàng trăm ngàn người Việt phải vùng thoát ra đi trốn chạy đoàn quân xâm lăng Cộng Sản độc tài tàn bạo, đã vào đến Thủ Đô Saigon lúc 10 giờ sáng Thứ Tư, ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Quý vị cùng chúng tôi, rất nhiều người đã trải qua cuộc vùng thoát kinh hoàng đó. Exodus ! Hàng trăm ngàn người đổ xô ra bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, Bến Tân Cảng, Kho Hàng Khánh Hội, hay Bến Đò Thủ Thiêm và Cát Lái, leo lên mọi thương thuyền lớn nhỏ, tràn vào những chiến hạm Hải Quân để ra đi, không cần biết sẽ đi đâu, có thoát được không, và bất kể sẽ còn được sống hay phải chết, cũng đi.
Xin cùng nhau nhìn lại những tấm hình dưới đây và xem lại câu chuyện video này, xin hãy tiếp tay chúng tôi chuyển tiếp tới những thân hữu trong facebook của quý vị, và nhất là giới thiệu cho các em trẻ từ 50 tuổi trở xuống để tất cả mọi người Việt tỵ nạn chúng ta tại Hoa Kỳ đều hiểu rõ hơn cuộc hành trình gian nan từ Việt Nam sang Mỹ của đợt người Việt đầu tiên, đợt người mà nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt cho một danh hiệu đáng nhớ mãi “Người Di Tản Buồn”.

image

Thật sự, ít có người biết, trong ngày và đêm 29/4/1975, hạm đội hành quân biển của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã quyết định ra khơi, khoảng hơn 40 chiến hạm lớn nhỏ trong tổng số 80 chiếc của hạm đội, sẽ tập trung tại Đảo Côn Sơn chờ một mệnh lệnh cuối cùng.
Có những chiến hạm đang tuần dương như chiếc HQ17 hoặc chiếc HQ229 được lệnh ra đi luôn khiến thủy thủ đoàn phải bỏ lại vợ con thân nhân trong sự chia lìa bất ngờ thật đớn đau.
Có những chiến hạm đang đậu ở bến Bạch Đằng thì phải đón nhận hàng ngàn đồng bào tràn lên, như chiếc HQ801 hay chiếc HQ502, có chiếc bình thường chỉ có 200 thủy thủ đoàn, nay phải cáng đáng 5,000 đồng bào tràn ngập mọi khoang tàu, từ đáy lên đỉnh cột cờ, người đâu là người đông như kiến bu.
Có chiếc đã bị hư máy nằm ụ trong Hải Quân Công Xưởng như chiến Lam Giang HQ402, đang sửa chữa mà cũng có hàng ngàn đồng bào tràn lên, căng thẳng nằm chờ không chịu xuống, và cũng chẳng biết thủy thủ đoàn ở đâu, con tàu có ra đi không ?. Và con tàu đó, với một vài sĩ quan còn lại, bằng một cố gắng phi thường, cuối cùng cũng nổ được máy, ì ạch ra đi vào trưa ngày 30/4 ngay trước mắt những chiếc xe tăng của Quân Cộng Sản vừa đậu giương cao nòng súng trên bến cảng.
Cũng có những thủy thủ vì bị bất ngờ xa cách vợ con đã xin về, nay kể lại mới biết, quyết định sai lầm đó đã trả giá rất đắt vì chế độ Cộng Sản đã tống ngay tất cả mọi người trở về vào tù cải tạo, không hề được gặp mặt vợ con chút nào.
Cũng có đoàn chiến hạm 4 chiếc ra đi từ đảo Phú Quốc, mang theo khoảng 2,000 đồng bào chạy qua Singapore xin tị nạn, Singapore không nhận, 4 con tàu phải chạy qua Phi Luật Tân, trên đường đi, có một chiếc bị một nhóm người giết chết vị hạm trưởng, cướp tàu, lái về Việt Nam trở lại. Còn 3 chiếc kia, tiếp tục cuộc hành trình dài tổng cộng 22 ngày trên biển đi tìm tự do

image (1)

Nếu quý vị là những người đã ra đi bằng cách đó, quý vị có còn nhớ quý vị đi trên chiếc chiến hạm số mấy không  ? Tôi hỏi cả trăm người, không có một ai biết tàu nào, số mấy, loại gì.
Thật sự, nếu không kể lại thì sự kiện mà Hải Quân VNCH đặt tên là Chuyến Hải Hành Cuối Cùng của đoàn chiến hạm 43 chiếc đã ra khơi, tập trung tại Côn Sơn chờ mệnh lệnh cuối cùng, rồi 32 chiếc còn sức chạy được, đã ra đi mang theo 30,000 đồng bào ruột thịt đi tìm tự do tại Subic Bay-Phi Luật Tân sẽ hoàn toàn bị quên lãng .
Ai đã ra đi trong Chuyến Hải Hành Cuối Cùng đó? Quý vị có còn nhớ gì chăng ? Quý vị có còn nhớ giây phút được lệnh phải hạ cờ, cuốn cờ, sơn che lại số tàu, vất bỏ mọi đạn dược xuống biển thì  Phi Luật Tân mới cho tàu vào bến không ? Quý vị có còn nhớ giây phút linh thiêng khi tất cả mọi người trên 32 con tàu, thủy thủ cũng như dân chúng, đồng loạt hát bài quốc ca với nước mắt tuôn trào, đau đớn tột cùng trong cảnh bi hùng nước mất, nhà tan, mang thân phận của kẻ vô tổ quốc trong giây phút chào cờ lần cuối cùng đó không?
Lịch sử cần phải được ghi lại, cần phải được kể lại, nhất là kể cho con cháu chúng ta để các em hiểu rõ được tại sao người Việt đã đến đây? đến từ lúc nào, và bằng cách nào?
Một lần nữa, xin giúp chúng tôi chuyển tiếp video này đến mọi thân hữu xa gần. Chân thành cảm ơn tất cả quý vị.

Share this:


Bẩm các cụ, các mợ!
Rảnh em lôi chuyện con tàu có một số phận đặc biệt này ra kể cùng các mợ các cụ.
Tiền thân của con RVNS Mỹ Tho là con USS LST-821/Tank Landing Ship LST-821
Con này sau lần lượt được đổi tên thành USS Harnett County (LST-821) rồi USS Harnett County (AGP-821)

http://www.navsource.org/archives/10/16/160821.htm

Tình trạng hiện nay Ghost ship

======

30 Tháng Tư. Chuyện Bây Giờ Mới Kể

Cập nhật mới nhất 06/04/2019

Hải Quân Thiếu Úy Đặng Tiến, PBC 70

Phan Thiết thất thủ vào ngày 19 tháng Tư năm 1975. Đêm 18 tháng Tư HQ 801 được lịnh ứng trực sát bờ biển Phan Thiết tại hòm Rơm Mũi né để cứu giúp các lực Quân Dân Cán Chính của hai Tiểu khu Ninh Thuận và Bình Thuận trên đường di tản bằng đường biển để đưa họ về Chí Linh Vũng Tàu, Chiến hạm di chuyển đến Mũi Kẻ Gà thì vớt được Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh trưởng Bình Thuận; Thiếu tá Hàng Phong Cao quận trưởng Hải Long và người con trai của Đại tá Nghĩa. Cả ba người đều mặc đồ đen trên tay đều xách theo một cặp Sámonite. Tôi được lịnh Hạm trưởng Bá ra đón họ ở cầu thang dây nơi hạm kiều và đưa vào Ca ré Sĩ quan.Sau đó một chiếc trực thăng mang danh hiệu Truyền tin là Phi Điểu 1 đáp xuống chiến hạm để rước ba người về Vũng Tàu.Theo tôi được biết ba người này di chuyển bằng một thiết vận xa M114 cơ hữu của Tiểu khu đến ngọn Hải đăng sau đó bỏ xe lại và xuống một Yabota thuộc Duyên đoàn 28 để ra HQ801. Sau này trong trại Cải tạo anh em tù đồn rằng trong chiếc M114 đó còn sót lại gần sáu trăm triệu đồng VNCH tiềng lương bổng của nhân viên tỉnh Bình Thuận chưa phát được (?). Trên mặt biển rất nhiều ghe thuyền của đồng bào tị nạn từ Nha trang, Phan rang, Mũi né đang đổ về Vũng Tàu. Ngày 21 tháng Tư chiến hạm về Sài gòn cặp cầu L trước Bộ Tư Lịnh Hạm đội nơi vị trí thứ ba ngoài cùng.

Thường thì HQ801 chỉ cặp ở Tân Cảng hoặc cột phao số 1, ít khi nào được ở vị trí kín đáo như thế này trừ khi nào sắp đại kỳ. Tổng kết năm công tác 1974 HQ801 và HQ504 đoạt giải xuất sắc của Hải đội 2 Vận chuyển.Hải đội trưởng HQ.Trung Tá Lê Thuần Phong có lẽ thích thằng số 2 trong gia đình Bác Tám này (HQ800, 801, 802).Chào cờ sáng thứ hai đầu tuần là ông lên HQ801 để chủ tọa nếu chiến hạm có mặt tại Sài gòn. Lần chào cờ đầu tiên ông chọn HQ.Th úy Tiến ra làm sĩ quan điều khiển, chắc có lẽ ông thấy thằng sĩ quan tò te này ăn mặc tươm tất với bộ tiểu lễ may bằng vải gabardin rất đẹp, ông cũng khen. Một sự lựa chọn đúng đắn vì tôi có giọng hô thật lớn của cán bộ đàn em. Cách đó một năm tại buổi thanh tra quân phục Tiểu lễ, Chỉ huy trưởng Quân trường Nha trang, Phó đề đốc Nguyễn Thành Châu cũng phán một câu như thế này. Xin bà con tha lổi tôi nhắc lại nguyên văn: ‘ĐM! thằng này có bộ Tiểu lễ đẹp ác ! Chắc bữa nào Tao cũng kiếm một bộ như mày. “Câu chửi thề này ít ra cũng làm tôi mát ruột. Bộ đồ này tôi phải bỏ gần nữa tháng lương Chuẩn úy để sắm nó. Hôm tôi đi về phép sau lễ gắn Alpha Omega tình cờ đi ngang tiệm vải Phạm thị Một ở đường Ngô Đức Kế , một giọng nói rất ư là Chà và cất lên : “Anh ưi ! vao đay mua gium em vai đi anh ! Vai G bac rơ rơ……..din đẹp lam ! “Tôi mất hồn khi thấy một người con gái Ấn độ có cặp mắt to bằng hai cái khu chén đang mời mọc.Sợ quá tôi chơi liền khỏi trả giá và tôi dược nổi tiếng với bộ đồ này.

Lúc ra trường có sáu Tân HQ.Th.úy K25 chọn nhiệm sở tàu này với nhiều lí do khác nhau. Th.úy Lê Thái Phúc học giỏi nhất ghi tên trước, Nguyễn Miền là cặp bài trùng với Phúc nhảy theo.Tôi và Lê Đắc Khánh chọn HQ801 vì nó chín nút.Hai đứa tôi là dân có máu cờ bạc, đi đâu cũng mang theo bộ bài khi dừng quân là nhanh chóng lập sòng xập xám. Vô tới trại cải tạo cũng vẽ ra bài để chơi,bây giờ đi đâu cũng còn lận theo bộ bài trong cóp xe.Tôi và cả K25 gọi Lê Đắc Khánh là Kmập vì nó mập.Đối với tôi nó là thằng bạn chơi đẹp nhất ,nó rộng rãi với tất cả mọi người nhất là về mặt tiền bạc.Mổi lần đi phép khi trở lại Quân trường Kmập cho anh em chia quà thoải mái.Tôi nhớ ở Quân trường nó có cái máy casset con dế hiệu Sony để nghe nhạc ,tôi hay chôm của nó để đem về phòng mình.Nó không bao giờ phàn nàn gì cả.Thuờng thì tôi đợi nó ngáy đều thì mới ra tay.Khi thấy mất nó khỏi phải đi tìm vì biết ngay thủ phạm.Tết năm 1973 Kmập làm cái cứng bài cào và trúng lớn, năm đó tôi được huởng ké một cái Tết phủ phê khi đi bờ Nha Trang.Cuối năm 1974 tàu ghé Phú Quốc Kmập thắng Bầu Cua tại An Thới,hai đứa ăn nhậu tưng bừng.Nguyễn Đăng Phong thích Kmập cũng xuống theo ở vị trí thứ năm.Phong là tay đập hữu hiệu số 1 của Đội bóng Chuyền Quân trường tánh tình điềm đạm ít nói nhưng tấm lòng rất quảng đại bao la.Vị trí thứ sáu là Phạm Văn Đắc ,đẹp trai nhưng sống khép kín như một thầy tu.Đắc và Phúc nhờ Anh văn giỏi nên được đi thực tập Hạm đội 7 mười tuần trước khi xuống tàu. Chúng tôi là lính mới tò te nhưng nhờ số đông ở chung đơn vị nên các sĩ quan đàn anh không dám ăn hiếp mà đôi khi còn ngược lại.Một cách tổng quát HQ801 là một đơn vị lí tưởng cho các Tân sĩ quan khi chọn nhiệm sở.
Nói vậy chớ không phải vậy ,kể từ lúc xưống đơn vị cho đến ngày mất nước ,HQ 801 hoạt động liên tục nên mới được danh hiệu chiến sĩ xuất sắc của Hải đội.

Trên nguyên tắc,HQ801 biệt phái trực tiếp cho Tổng Cục Tiếp Vận để yểm trợ cho SDD va SD TQLC đang hoạt động tại vùng Địa đầu Giới tuyến.Cứ hai tuần hải hành đi Đà nẳng thì một tuần về lại Sài Gòn ,hoặc Cam Ranh để lấy hàng.Thường thì là đạn dược,lương khô và các quân trang quân dụng khác.Nhiều khi trên đường về BTL/Hành quân Biển lại xỉ chúng tôi phải đi tuần dương để thay thế cho các Tuần Dương hạm vào bờ để lấy nước ngọt hoặc đi chợ.
Sau Giáng sinh 1974 ,tình hình chiến sự trở nên sôi động khi VC tràn ngập Chi khu Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy.HQ 801 không còn cơ hội nghĩ bến lâu.Thậm chí mới vừa về xong lại có lịnh hải hành tiếp tục,có khi vừa đi vừa lấy nước ngọt trên sông Sài Gòn.Tôi còn nhớ trong chuyến đưa các SVSQ/Đà Lạt các K 29,30,31 đi thực tập Biển ,khi ngang qua Nha Trang thì có công điện khẩn kêu Th.úy Tiến về Phan Thiết cưới vợ gấp.Thuơng đàn em ,thay vì ghé Nha trang bỏ tôi lên bờ đi xe đò ,HT.Bá ra lịnh cho tàu chạy một mạch về Vũng Tàu ,báo cáo máy chánh số 1 BKZ, bất chấp trời tối ông cho chiến hạm theo sông Lòng Tảo về Sài Gòn cho kịp đám cưới.Th.úy Kmập đại diện cho chiến hạm đăng báo chúc mừng trên tờ Thách Đố.Tôi cất tờ báo này cho đến khi VC vào thành và Má tôi phải cân cho ve chai để khỏi tội tàng trử văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy.Từ đó cho tới bây giờ tôi không còn một cơ hội nào để tổ chức một bữa tiệc ra mắt vợ hiền với tập thể sĩ quan trên HQ 801.

Tết Ất Mão ,HQ 801 ghé Vũng Tàu lãnh 70 chục ngàn tiền thuởng ,đến Côn Sơn cùng Đặc khu này tổ chức Tất niên rồi tiếp tục hải hành về Phú Quốc đón Giao thừa trên Biển.Đêm hôm đó tất cả các SQ đều say mèm chỉ có Th.úy Tiến không uống rượu được nên cùng các SVSQ/Đà Lạt lái tàu theo đường vẽ của Hạm trưởng.Người xỉn nhất có lẽ là Kmập ,say đến nổi nó quăng cái ví xuống biển mà không biết.Nó khóc như đứa con nít vì nhớ Cha già mà mấy mùa Xuân rồi không về ăn tết với gia đình được.

Khi chiến hạm ghé An Thới,H.trưởng thuơng Kmập quá bèn ký cho thằng em ba ngày phép hai ngày đường để nó về thăm Cha.Từ An Thới nó đi ghe vô Rạch giá rồi bắt xe đò về Long Xuyên.Sau khi hoàn tất thủ tục thăm viếng xong Kmập lại lên xe tiếp tục trực chỉ ra Vũng Tàu cùng với SQ binh lương đợi ở đấy.Trong khi đó HQ801 làm một vòng Phú Quốc xong ngược lên Vũng Tàu đón hai đứa con của mình rồi tất cả cùng nhau đi ra Trường Sa đảo như cuộc hải trình đã định để hoàn tất chương trình huấn luyện cho SVSQ/VBDL.

Không biết Kmập có về thăm nhà thiệt không, sao mà khi trở lại đơn vị nó chỉ kể toàn chuyện gặp gái.Trong 4 SQ K25 trình diện đơn vị ,tôi để ý thấy H.trưởng kết thằng Mập nhất ,có lẽ nó ăn nói có duyên cộng thêm tướng tá ngon cơm cho nên phong cho nó làm phụ tá Trưởng ban Ẩm thực ,thằng Phong làm phụ tá Văn Thư,thằng Miền làm phụ tá Phòng Tai,ông ghét tôi nhất nên cho làm Trưởng ban Y tế.Mổi khi có họp hành gì toàn là bắt Trưởng ban,Trưởng ngành vào họp còn mấy thằng kia ngồi ngoài chơi Domino.Nhưng bù lại thì tôi có hai thằng đệ tử là Tr.sĩ Y tá còn tụi nó không có thằng lính nào.Khi nào muốn làm gì thì sai lính làm phẻ re còn tụi nó phải tự làm.
Đầu năm 1975 ,đơn vị có một sự thay đổi.HQ.Đại úy Nguyễn Chí Cần(K17) hạm phó Hq801 thăng cấp Th.tá để về nắm CHT.Đài kiểm báo 302 Vũng Tàu và HQ.Đại úy Nguyễn Lương Thuật(K16) từ 302 về làm Hạm phó HQ801.Ông Thuật là dân Phan Thiết có người anh là Nguyễn Lương Mỹ cấp bậc Đại úy ,phục vụ tại Tiểu khu Bình Thuận.Cả hai ông đều là con trai của Đại tá Nguyễn Văn Bông cựu Tỉnh trưởng Bình Định.Mẹ của hai ông lúc bấy giờ đang tu tại một Tịnh thất ở cổng Chữ Y trên đường Quốc lộ đi Sài gòn. Hạm phó Cần là người hiền từ,ăn nói nhỏ nhẹ và rất được lòng cấp dưới.Sự ra đi của ông làm chúng tôi thật xao xuyến nhưng bù lại có ông Tân hạm phó là người rất chịu chơi và là một dân chơi thứ thiệt.Ông là tay khiêu vũ nổi tiếng đã từng đoạt nhiều giải Tango ở các vũ trường Sài gòn.Đối với các SQ Hải quân ,nhảy đầm là một môn thể thao nghệ thuật được ưa chuộng. Những khi chờ lên ca hoặc xuống ông Thuật hay dạy chúng tôi khiêu vũ.

Khi Cộng quân mở chiến dịch tấn công Phước Long ,tình hình chiến sự bắt đầu sôi động và bất lợi ở về phía ta.Hôm trong Tết trong một chuyến tiếp tế cho Vùng Một ,tình cờ nghe một Phi công của Sư Đoàn 1 KQ cho biết là quan sát có thấy sự chuyển quân rất lớn của CSBV nhưng vì thiếu nhiên liệu và bom nên cấp chỉ huy chưa cho oanh tạc xuống các vị trí của quân Địch.Điều này có nghĩa là Mỹ đã cắt tất cả các quân viện cho VNCH.Chỉ còn có lực lượng Hải quân là còn đủ khả năng yểm trợ cho các quân binh chủng bạn.Vì vậy sau khi chiến hạm trở về Nha trang thả SVSQ xuống là chúng tôi lại lao vào các công tác cho đến khi Vùng 1 di tản.
Trước ngày 27 tháng Tư một công điện từ Tư lịnh Hạm đội gởi đến các Chiến hạm cho phép nhân viên cơ hữu đưa thân nhân lên tàu và các Chiến hạm di chuyển ra neo ở ngoài Ngã Ba Đèn Đỏ(chổ hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài gòn đổ vào sông Lòng Tảo để ra biển ).

Mấy tiếng sau lịnh được thu hồi và Đại tá Nguyễn Xuân Sơn bị cách chức , Đại tá Nguyễn Mạnh Khuê lên thay. Chỉ có Hạm phó Thuật thi hành triệt để lịnh trên ,ông đưa cả gia đình ông,gia đình ông Mỹ cùng với bà mẹ ,nhưng để người cha ở lại .Người Mỹ cũng đã có những chuyến bay từ Sài gòn đến Guam để đưa nhân viên VN trong các sở của họ di tản trước. Những ông Lớn trong chánh phủ cũng ăn có theo những chuyến này. Toàn thể nhân viên của Đài Mẹ Việt Nam cũng được đưa đi trước.

Conclusion / Thay Lời Kết

History Through Our Eyes: May 7th, 1975, lining up for….

The sacred moment when everyone on 32 ships, sailors as well as the people, simultaneously sang the national anthem with tears flowing, excruciating pain in the tragic scene of the loss of the country, the loss of the house, the loss of the family…

of the stateless man in the last salute of the flag.

Philippines orders to lower the flag, roll the flag, paint over the number of ships, throw all ammunition into the sea.

REPUBLIC OF THE PHILIPPINES
DEPARTMENT OF TRANSPORTATION AND COMMUNICATIONS
MARITIME INDUSTRY AUTHORITY

https://www.classnk.or.jp/hp/pdf/activities/statutory/isps/flag/philippines/MA_2012-06.pdf

EFFECTIVITY CLAUSE
This Advisory shall take effect immediately following its publication once in a
newspaper of general circulation in the Philippines.
(Signed) EMERSON M. LORENZO, CESO V

Administrator (last position)

Maritime Industry Authority

juin 1982 – avr. 2012 · 29 ans 11 mois

Manila, PhilippinesManila, Philippines

  • Manages / Administer the Authority’s regulation/supervision and promotion/development of domestic shipping, overseas shipping, shipbuilding/ ship repair and maritime manpower sectors of the Philippines.

    Represent the Authority in national and international meetings, conferences, and events.

The central metaphor of Sun Tzu’s work is water. 

A military force has no constant formation, water has no constant shape. The ability to gain victory by changing and adapting according to the opponent is called genius.”

Genius, in Sun Tzu’s explanation, is to behave like water. Water is strong offensively and defensively. If you are standing in the ocean as the waves come at you, punching or pushing at the wave is a strictly futile effort, the water simply redirects around you to the points where you are weak. You can neither strike it offensively nor resist it defensively. It flows away from where you are strong to wherever you are weak.

When the victorious get their people to go to battle as if they were directing a massive flood of water into a deep canyon, this is a matter of formation. When water accumulates in a deep canyon, no one can measure its amount, just as our defense shows no form. When the water is released it rushes down in a torrent, just as our attack is irresistible.”

Water is at once full of power and empty of form, impossible to attack and impossible to resist. That seems pretty powerful.

This metaphor has been echoed by many other strategists. Bruce Lee when talking about his fighting style famously said:

You must be shapeless, formless, like water. When you pour water in a cup, it becomes the cup. When you pour water in a bottle, it becomes the bottle. When you pour water in a teapot, it becomes the teapot. Water can drip and it can crash. Become like water my friend.”

This is a pretty cool thing to think about but it’s not intuitively obvious to me how I would operate differently in my life or business or investments by “becoming like water.”

“Chiếm được thành quách chưa phải là người chiến thắng. Mả chiếm được lòng dân mới là người thật sự chiến thắng”. TT

Lễ chào cờ Mỹ và nghi thức chào cờ VNCH

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s